ĐỀN HÙNG ( HI CƯƠNG – VIỆT TRÌ – PHÚ THỌ ) – NƠI HỘI TỤ KHÍ THIÊNG SÔNG NÚI



Nằm trên núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Đền được xây vào thế kỷ 15, tương truyền nơi đây người con trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ lên làm vua lấy hiệu Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang.
Khu di tích đền Hùng là một quần thể kiến trúc thâm nghiêm trên núi Nghĩa Lĩnh. Từ Hà Nội theo quốc lộ số 2 đến thành phố Việt Trì (84km) đi tiếp khoảng 10km đến ngã ba Hàng rẽ về bên trái 3 km là đến khu di tích. Khu di tích lịch sử đền Hùng gồm có đền Hạ và chùa, đền Giếng, đền Trung, đền Thượng, lăng vua Hùng.
Ðền Hạ: Từ chân núi Hùng rẽ qua Ðại môn (cổng đền) leo qua 225 bậc thang xây bằng gạch lên đến đền Hạ và chùa (Thiên Quang tự). Ðền được xây vào thế kỷ 15, tương truyền nơi đây bà Âu Cơ sinh bọc trăm trứng, nở thành trăm người con. Âu Cơ dẫn 50 người con lên núi, Lạc Long Quân dẫn 49 người con xuống biển, để lại người con trưởng làm vua hiệu là Hùng Vương, đóng đô ở Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang. Trước cửa đền Hạ có cây thiên tuế, nơi đây chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường về tiếp quản thủ đô có nói chuyện với chiến sĩ của đại đoàn quân tiên phong “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
Ðền Trung: Từ đền Hạ leo thêm 168 bậc đá nữa là tới đền Trung. Tương truyền nơi đây các vua Hùng lập quán xá để nghỉ ngơi và bàn việc với các lạc hầu. Cũng ở nơi đây hoàng tử Lang Liêu đã dâng bánh chưng, bánh giầy lên cho vua cha nhân dịp tết.
Ðền Thượng: Từ đền Trung đi tiếp 102 bậc đá là đến đền Thượng, nơi các vua Hùng làm lễ tế Trời Đất, Thần Núi và Thần Lúa. Ðây cũng là nơi Thục Phán sau khi được vua Hùng thứ 18 truyền ngôi, dựng cột đá thề sẽ trông nom ngôi đền và giữ gìn cơ nghiệp nhà Hùng.
Lăng vua Hùng: Tương truyền là mộ vua Hùng Vương thứ 6. Sau khi Thánh Dóng đánh giặc Ân bay lên trời, vua Hùng đã hoá ở đây.
Ðền Giếng: Từ lăng đi xuống, đền ở chân núi phía Ðông Nam. Trong đền có giếng Ngọc, bốn mùa đầy nước, trong vắt soi gương được. Ðền thờ Ngọc Hoa và Tiên Dung là con gái yêu của vua Hùng thứ 18 thường hay chải tóc và soi gương ở giếng này.
Ngày nay, ở gần Công Quán (nơi để tiếp khách thập phương) có Bảo tàng Hùng Vương được xây dựng tương đối lớn trưng bày nhiều hiện vật thời kỳ Hùng Vương dựng nước qua nền văn hoá thời đại đồ đá, đồ đồng, đồ sắt…

Nguồn: https://kulekov.com/

Xem thêm bài viết khác: https://kulekov.com/du-lich/

15 thoughts on “ĐỀN HÙNG ( HI CƯƠNG – VIỆT TRÌ – PHÚ THỌ ) – NƠI HỘI TỤ KHÍ THIÊNG SÔNG NÚI

  1. CÁC VUA HÙNG VÀ NHÀ NƯỚC VĂN LANG

    Nhà nước Văn Lang được vua Hùng đầu tiên, hay Quốc Tổ Hùng Vương khai lập năm 2959 trước công nguyên (TCN). Trước đó chúng ta là nhà nước Xích Quỷ, dưới sự trị vì của các vua Kinh Dương Vương, đóng đô ở Nam Kinh Xích Quỷ – nay là thành phố Nam Kinh, Trung Quốc. Nam Kinh có nghĩa là kinh đô của nhà nước ở phương Nam, lấy sông Trường Giang làm ranh giới tự nhiên. Và Bắc Kinh có nghĩa là kinh đô của nhà nước ở phương Bắc.

    Sau khi lên ngôi thay cha (vua Kinh Dương Vương thứ 9), Quốc Tổ Hùng Vương đổi tên nước thành Văn Lang, đổi niên hiệu thành Hùng Vương. Ngài nhiều lần tiến về mở mang bờ cõi phía Nam (đất Lĩnh Nam), giúp cương thổ nước Văn Lang mở rộng, kéo dài từ phía Nam sông Trường Giang, đến Trung Phần miền Bắc Việt Nam ngày nay.

    Quốc Tổ Hùng Vương là vị vua anh minh. Ngài sáng lập nền QUỐC ĐẠO dân tộc, bao gồm những điều trị quốc – an dân, dựa trên Hiến Pháp, Luật Pháp và Đạo Pháp. Mọi người từ vua, quan, bá tánh đều bình đẳng trước pháp luật, đều hưởng một hệ quy chiếu công-thưởng, tội-phạt như nhau. Vì vậy, 100 dân tộc anh em (Bách Việt) chung sống hòa bình. Ai cũng ngang hàng, có tiếng nói và được lắng nghe.

    Ở phương Bắc, xã hội hoàn toàn khác. Vua là tối thượng. Vua muốn ai chết người đó phải chết. Văn hóa phương Bắc là văn hóa TRANH NHAU LÀM VUA. Các vua nổi lên và tiêu diệt qua lại không ngừng. Vua lớn nuốt vua nhỏ. Nước lớn nuốt nước nhỏ (bằng tất cả âm mưu và thủ đoạn thâm độc nhất. Ai từng xem qua Tam Quốc Chí, Thiên Long Bát Bộ, Thủy Hử… sẽ hiểu). Chinh phạt nước này, thu phục nước kia, xóa xổ nước nọ, rồi lại cứu nước này, giúp nước kia… Phương Bắc là 1 bãi chiến trường khổng lồ. Mạnh được, yếu thua, thắng làm vua, thua làm giặc. Vua hay giặc đều như nhau. Ai có nhiều nhân tài biết đội lốt nhân nghĩa, mưu mô xảo quyệt hơn thì thắng. Đến giờ phương Bắc vẫn nguyên văn hóa này, chưa khi nào ngừng toan tính xâm chiếm các nước xung quanh.

    Nhờ có nền QUỐC ĐẠO, là Hiến Pháp, Luật Pháp và Đạo Pháp, dựa trên nhân quả – nhân nghĩa – vị tha, dựa trên văn hóa cội nguồn, nên ở Văn Lang không có cảnh tranh giành tàn sát. Đất nước thái bình, lương thực nhiều, quân binh mạnh. Vào thời Thượng Hùng Vương 13 và 14, nước ta bị phương Bắc (giặc Thượng Tây Hạ và giặc Hồ Xương) xâm lược, nhưng đều bị đánh bại, quét sạch tại trận địa. Độc lập của Văn Lang kéo dài 2701 năm. Không có nhà nước cổ đại, phong kiến nào trên thế giới lâu như vậy. Các vua Hùng truyền nhau 41 đời, 23 Thượng Hùng Vương và 18 Hạ Hùng Vương. Hạ Hùng Vương 18 không có con trai nên truyền ngôi cho cháu là Thục Phán (năm 258 TCN). Thục Phán lấy niên hiệu An Dương Vương (nên còn gọi là An Dương Vương Thục Phán). Ngài đổi tên nước thành Âu Lạc. Giai đoạn các vua Hùng và nhà nước Văn Lang kết thúc tại đây.

    Hỏi vì sao lại có Thượng và Hạ Hùng Vương? Câu trả lời là vua Hùng thứ 23 Hùng Dịch Lang không có con trai nên truyền ngôi cho con trai của người em, Hùng Vân Lang, mở ra thời kỳ Hạ Hùng Vương thứ nhất. Quốc vương Hùng Vân Lang lên ngôi năm 1276 TCN, tiếp tục truyền đến đời 18, nên gọi chung “18 VUA HÙNG”.

    Câu hỏi khác, 41 đời Hùng Vương trị vì hơn 2700 năm có hợp lý không? Khi bình quân mỗi vị hơn 60 năm? Trả lời là, khi đó trời đất linh khí nhiều, môi trường trong sạch, đi lại chủ yếu là đi bộ, con người sống có Quốc Đạo, hài hòa với thiên nhiên, nên tuổi thọ rất cao. Bình quân hơn trăm. Cũng vì vậy các vua Hùng thường truyền ngôi thẳng cho cháu nội. (*)

    Tóm tắt các ý chính:
    + Quốc Tổ Hùng Vương (Hùng Lang) lập ra nhà nước Văn Lang năm 2959 TCN. Trước đó chúng ta là nhà nước Xích Quỷ, trải qua 9 đời vua Kinh Dương Vương.
    + Các vua Hùng truyền được 41 đời, 23 đời Thượng Hùng Vương và 18 đời Hạ Hùng Vương.
    + Hạ Hùng Vương 18 không có con trai nên truyền cho cháu họ là Thục Phán. Thục Phán đổi nước thành Âu Lạc và đổi niên hiệu thành An Dương Vương. Thời kỳ Hùng Vương kết thúc năm 258 TCN.

    Tham khảo:
    + https://baotienrong.com/
    (*) Danh sách chi tiết 41 đời vua Hùng: https://baotienrong.com/long-hoa-mat-tang/   

    File pdf các bài viết về Vua Hùng và nhà nước Văn Lang:   http://www.mediafire.com/file/55rh7gogdd58u9s/Vua+Hung+va+nha+nuoc+Van+Lang_26012018.pdf

  2. vua hùng có công dựng nước bác cháu ta cùng nhau giữ lấy nước ok văn phòng nam định

  3. Đền hùng tổ tiên và con người đất nước VN của chúng ta, thì đối với dân công giáo và dạo tin lành tin lèo thì chúng bảo là của chúa trời của chúng . Mà chúng đòi dân con người Việt Nam và đất nước cho chúa trời sử dụng . Ai không tin gõ chữ này xem '' TUYEN NGON THUOC LINH ''

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *